Sức Khoẻ

20 lý do nên ăn chuối



(Dân trí) - Loại quả nào cũng rất nhiều vitamin và chất khoáng cần thiết cho cơ thể nhưng tại sao bạn nên ăn chuối mỗi ngày?

1. Khỏe não

Trong chuối có nhiều kali sẽ giúp trí não họat động nhạy bén và linh hoạt.

2. Nhuận tràng

Chuối giàu chất xơ vì thế có tác dụng nhuận tràng, tránh táo bón.

3. Bình tĩnh

Chuối có lượng vitamin B cao nên có giúp giữ bình tĩnh rất tốt.

4. Giảm bệnh thiếu máu

Chuối có nhiều chất sắt vì thế giúp giảm bệnh thiếu máu bằng cách kích thích sản sinh ra hemoglobin.

5. Tốt cho dạ dày

Làm hỗn hợp chuối, sữa và mật ong. Chuối giúp bình ổn dạ dày và giữ lượng đường trong máu ổn định dưới tác dụng của mật ong.

6. Vui vẻ

Trong chuối có chứa tryptopan mà cơ thể chuyển đổi thành serotonin. Ăn chuối giúp bạn cảm thấy vui vẻ, thư giãn và có tâm trạng tốt hơn.

7. Giàu vitamin và chất khoáng

Chuối chứa nhiều vitamin B6, B12, kali, magiê…

8. Giảm nguy cơ đột quỵ

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ăn chuối đều hàng ngày giảm 50% nguy cơ bị đột quỵ.

9. Giảm khó chịu buổi sáng với những người đang mang thai

Ăn chuối giúp các bà mẹ đang mang thai giảm những triệu chứng khó chịu vào buổi sáng khi ngủ dậy.

10. Tâm trạng tốt

Điều chỉnh mức độ đường trong máu góp phần mang lại một tâm trạng tốt.

11. Huyết áp tốt hơn

Chuối giàu kali và có lượng muối thấp nên là loại quả rất tốt giúp huyết áp ở trạng thái ổn định.

12. Giảm chứng ợ nóng

Chuối có tác dụng giảm độ axit trong dạ dày nên giảm chứng ợ nóng.

13. Giảm sưng phồng khi bị muỗi đốt

Rất nhiều người dùng phần bên trong của quả chuối xoa lên những vùng bị muỗi đốt để giảm ngứa và sưng.

14. Giảm stress

Kali là một chất khoáng rất cần thiết giúp bình ổn chứng ợ nóng, đưa ôxy lên não và điều chỉnh lượng nước cân bằng trong cơ thể.

Cơ thể bị stress khi mức độ kali thấp vì thế ăn chuối giúp tăng lượng kali và giảm stress.

15. Loại bỏ hột cơm, mụn cóc trên da

Lấy phần bên trong của vỏ quả chuối đắp lên vùng da có hột cơm rồi quấn quanh bằng dải vải. Đây là một cách để loại bỏ hột cơm, mụn cóc trên da.

16. Trị ung nhọt,chỗ loét trong dạ dày

Chuối mềm là loại hoa quả giúp giảm axit tại những chỗ loét trong thành dạ dày.

17. Giảm thèm ăn

Ăn chuối giúp giảm cảm giác thèm ăn và điều chỉnh lượng đường trong máu.

18. “Hạ hỏa”

Chuối được xem như loại quả có tác dụng “hạ hỏa” với những người nóng tính.

19. Làm sạch giầy

Làm sạch giầy của bạn bằng phần bên trong quả chuối để có màu sáng bóng.

20. Ngon miệng

Chuối là loại quả ngon, rẻ và bổ (cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng cho cơ thể).

Thứ ba, tháng tư 11, 2006

Ăn phải món kỵ nhau có thể tử vong

Ăn phải món kỵ nhau có thể tử vong


Tuyệt đối không uống sữa pha với nước hoa quả
Theo các nhà chuyên môn, trong ẩm thực có nhiều món ăn không thể cùng lúc dùng chung với nhau được. Nếu thiếu hiểu biết, dùng các món này người ăn có thể đổ bệnh hoặc tử vong.

Ngày 1-4, bé T.V.H, 6 tháng tuổi, ngụ tại Long An, được đưa đến Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 1 TPHCM trong trạng thái khó thở, tim có dấu hiệu ngừng đập, toàn thân tím tái. Nhờ các y-bác sĩ BV liên tục áp dụng những biện pháp hồi sức tích cực, bé mới thoát khỏi cơn nguy kịch.

Theo lời bà ngoại của bé V.H, khi được 3 tháng, H. có dấu hiệu ngán sữa mẹ. Để thay đổi khẩu vị cho bé, người nhà đã lấy nước củ dền pha với sữa cho bé uống vì nghĩ rằng cả 2 món đều bổ, uống vào rất tốt. Uống hỗn hợp nước này được 1 tháng thì bé có những dấu hiệu nói trên.

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Hoa, Trưởng Khoa Dinh dưỡng BV Nhi Đồng 1, nếu đến BV muộn, bé V.H có thể tử vong. Bác sĩ Hoa phân tích: Chất nitrat trong nước củ dền rất dễ kết hợp với hồng cầu của bệnh nhân, làm cản trở sự vận chuyển ô-xy trong cơ thể. Dùng lâu ngày trẻ sẽ bị thiếu ô-xy, tím tái, tính mạng bị đe dọa. Trước đây, mỗi ngày Khoa Cấp cứu BV Nhi Đồng 1 tiếp nhận không ít trường hợp như thế này, nhiều ca chuyển đến quá muộn nên không tránh khỏi tử vong.

Trái với trường hợp trên là câu chuyện đau lòng của chị N.N, ngụ tại ấp Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Do quên mua đường cát, chị lấy mật ong cho mẹ chồng ăn chung với tàu hũ. Ăn xong vài giờ, mẹ chồng chị than mệt, khó thở, một hồi sau thì hôn mê. Chuyển đi BV, giữa đường bà tử vong. Đến nay chị cũng không biết bà mất vì bị bệnh tim mạch sẵn có hay vì 2 món ăn kỵ nhau.

Nhưng theo lương y Trần Khiết, giảng viên Đại học Y Dược TPHCM, nhiều khả năng do thức ăn gây ra. Ông nói: “Trong tàu hũ thường có thạch cao và trong mật ong thì có đường. Hai thành phần này gặp nhau sẽ tạo hiện tượng vón cục, đông cứng trong dạ dày làm người ăn khó thở, hụt hơi rồi hôn mê. Đặc biệt, nếu người đó có bệnh về tim mạch, thời gian dẫn đến tử vong càng nhanh hơn”.

Một số món ăn không nên dùng chung

Thạc sĩ Đào Mỹ Thanh, Trưởng Khoa Vệ sinh an toàn thực phẩm Trung tâm Y tế dự phòng TPHCM, cho biết trên thực tế có nhiều thực phẩm mà người tiêu dùng không nên ăn chung vì dễ gây tác hại cho hệ tiêu hóa, tim mạch, dạ dày và tuyến giáp trạng:

- Sữa đậu nành và trứng gà: Vì sữa có men protidaza kiềm chế các protein trong trứng gà gây cản trở tiêu hóa làm khó tiêu, đầy bụng

- Sữa bò và nước hoa quả: Vì nước hoa quả có tính axít làm biến đổi tính chất của sữa bò gây khó tiêu.

- Củ cải trắng và các loại lê, táo, nho: Vì ceton đồng có trong những loại trái này phản ứng với axit cianogen lưu huỳnh có trong củ cải khiến người ăn bị suy tuyến giáp trạng và bướu cổ.

- Khoai lang và quả hồng: Vì tinh bột trong khoai lang kích thích dạ dày tiết ra axít tác dụng với chất chát tanin trong quả hồng gây viêm loét và chảy máu dạ dày.

- Thịt chó và nước trà: Vì tanin trong nước trà tác dụng với proin trong thịt chó làm se niêm mạc ruột, giảm nhu động ruột, lúc này ruột tích tụ nhiều chất có hại dẫn đến táo bón, nguy cơ gây ra ung thư.

- Uống nhiều nước có gas trong bữa ăn: Vì sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa, cụ thể là làm loãng dịch vị, gây cản trở co bóp thức ăn dẫn đến viêm dạ dày.

- Nước rau quả pha chung với sữa cho trẻ uống vì về lâu dài sẽ bị bệnh Methemoglobin (một loại bệnh gây khó thở, tím tái và tử vong)

- Óc heo và trứng gà vì sẽ làm tăng lượng cholesterol trong máu dễ bị tử vong do cao huyết áp.

6 điều cần tránh khi cho trẻ ăn uống

1. Cho trẻ uống kèm nước hoa quả trong giai đoạn bú sữa mẹ.

2. Dùng nước rau quả pha với sữa.

3. Khi dùng các loại xúp, chỉ cho trẻ ăn phần nước mà không cho ăn phần cái, trong khi phần nước lại có tanin gây cản trở sự hấp thu thức ăn.

4. Không cho trẻ ăn nhiều dầu mỡ, làm hạn chế khả năng hấp thu vitamin trong cơ thể trẻ với các chất dinh dưỡng.

5. Cho trẻ ăn lòng trắng trứng sống dẫn đến tình trạng thiếu khí biotin làm trẻ bị lở loét miệng.

6. Cho ăn liên tục các loại trái cây, rau củ có màu vàng (bí đỏ, cà rốt, đu đủ) khiến trẻ bị vàng da.

BS. Nguyễn Thị Hoa (Báo Người lao động)

Chủ nhật, tháng mười một 27, 2005

Uống thuốc đông y nên biết

Dùng kết hợp đông - tây dược không chỉ dựa theo nhu cầu chữa bệnh mà còn phải căn cứ vào nguyên tắc dùng thuốc và đặc tính của chúng. Cần chú ý một số đặc điểm sau để tránh phản ứng xấu hoặc sự kháng thuốc gây ảnh hưởng đến sức khỏe.


Không nên dùng chung với thuốc tây


Không dùng kháng sinh cùng một số vị thuốc bắc.


Các loại thuốc như tetracycline, terramycin, aureomycin không thể dùng lẫn với thuốc bắc có chứa ion kim loại như canxi, magiê, nhôm.. như viên giải độc ngưu hoàng, viên chu tằng, phèn chua, từ thạch, hoạt thạch, mẫu lệ, con sò, bột trân châu...


Trong tây y, thuốc tetracydine chủ yếu dùng để tiêu viên, dễ kết hợp với các chất vô cơ như canxi, magiê, sắt... tạo thành những hợp chất khó hấp thu, làm giảm hiệu quả của quá trình điều trị. Ví dụ khi dùng kháng sinh không nên dùng viên giải độc ngưu hoàng vì thành phần chủ yếu của viên giải độc ngưu hoàng là thạch cao trong đó có satimite dùng chung với kháng sinh sẽ loại trừ tác dụng kháng viên của kháng sinh.


Tránh sử dụng thuốc bắc với các loại thuốc tăng cường tiêu hóa.


Các loại thuốc trợ tiêu hóa như pepsin, viên đa men, oancreatin không thể dùng chung với đại hoàng và một số loại thuốc bắc đã bào chế có đại hoàng như viên giải độc ngưu hoàng, viên giải nhiệt... vì đại hoàng sẽ gây ức chế đối với các loại thuốc trị tiêu hóa dạng enzyme. Những loại thuốc này cũng không thể dùng chung với thuốc bắc có acit ellagic (thuốc thuộc da) như ngũ bội tử, hỗ trượng, tủ kim đinh vì sẽ gây kết tủa và mất tác dụng. Các loại thuốc được bào chế theo kiểu nung như huyết dư than, hà diệp than, bồ hoàng than, vỏ sò nung... sẽ hấp phụ các loại men tiêu hóa làm giảm hiệu quả chữa bệnh.


Tránh sử dụng thuốc hải dương với thuốc tây.


Hải dương là những vị thuốc có nguồn gốc từ biển. Các loại thuốc làm bằng vỏ động vật nhuyễn thể như mẫu lệ, vỏ sò, hải phiêu tiêu, thạch quyết minh, vỏ hến, hải phù thạch, bột trân châu... đều chứa các ion kim loại như canxi, magiê, nhôm, sắt... không thể uống cùng với tetracycline, rimifon, doxycycline, tenamycin, nếu không, sẽ tạo thành những hợp chất khó tan, lại khó hấp thu làm kém tác dụng kháng khuẩn.


Dùng các loại thuốc hải dương chứa ion kim loại với thuốc tây thuộc các nhóm thuốc cephalo, penicillin, luminal, phenytoin sodium, phenylbutazone, aspirin, antinfan furadantin... sẽ làm giảm hiệu quả của thuốc tây.


Khi uống rượu hải long, hải cẩu, hải mã... không nên uống các loại thuốc phenformin, dicaumarin, tolbutaminde, analgin. Vì rượu này làm tăng hoạt lực của men thuốc trong gan khiến tốc độ chuyển hóa thuốc tây tăng nhanh, giảm thấp hiệu quả điều trị. Nếu dùng chung với các loại thuốc như norimiframine, imiramine, amitilin không chỉ làm giảm tác dụng của thuốc mà còn gây phản ứng độc hại.


Uống dầu cá tránh không dùng với neomycin và cholestyramine vì sẽ làm giảm sụ hấp thụ của vitamin A, D trong dầu cá. Cũng tránh dùng một lúc với các loại diazepara, luminal, libruum vì sẽ làm tăng nhanh sự chuyển hóa vitamin.


Tránh dùng đồng thời với thuốc tetramisole, tuy tác dụng tẩy giun có tăng nhung phản ứng độc hại cũng tăng. Hải đới kiêng dùng với resepine, berbenne và atropine, nếu không sẽ gây phản ứng lắng đọng trong đường ruột, khiến cả hai đều mất tác dụng.


Uống thuốc cần biết


Khi dùng các loại thuốc bổ như nhân sâm, nhung hươu, đảng sâm, bạch truật, sơn dược, hoàng kỳ, địa hoàng, hà thủ ô... không được ăn củ cải, kiêng uống nước trà và thức ăn tính kiềm.


Khi uống hoàng liên cam thảo cần kiêng thịt lợn.


Uống uy linh, thổ phục linh kiêng uống trà.


Uống đảng sâm, phục linh kiêng ăn nấm.


Khi dùng bạc hà kiêng ăn thịt ba ba.


Thường xuyên dùng sơn dược kiêng hành sống.


Khi dùng miệt giáp (mai ba ba) kiêng rau dền.


Dùng kinh giới kiêng cua, cá.


Uống mật ong kiêng hành, tỏi.


Thiên môn đông kị cá chép.


Mạt sắt kiêng lá chè.


Bạch truật kiêng đào, mận.


Địa long kị đậu phụ.


Bị phong hàn cảm mạo, thấp nhiệt kiêng các thứ nhiều dầu mỡ, chua chát.


Bị đờm thấp khó thông, đau bụng, tiêu chảy kiêng ăn các loại hoa quả lạnh.


Bị ghẻ lở, mụn nhọt kiêng ăn các thứ tanh như tôm, cá, hến, sò...


Các bệnh phát do nhiệt phải kiêng thuốc, rượu, các chất đắng và thức ăn xào, rán.


Không thêm đường vào thuốc bắc


Nước thuốc bắc sau khi sắc có vị đắng chát làm cho nhiều người cảm thấy khó uống, tuy vậy không nên tùy tiện cho đường vào cho dễ uống.


Do các thành phần trong thuốc bắc tương đối phức tạp, trong đường có nhiều nguyên tố sắt, canxi và tạp chất. Khi protein và chất tannin cũng như một số thành phần khác trong thuốc bắc kết hợp với chúng sẽ gây ra phản ứng hóa học, làm cho những thành phần hữu ích trong thuốc bị kết tủa, biến chất, sinh ra hiện tượng vẩn đục, lắng đọng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc mà còn có tác hại cho sức khỏe.


Hơn nữa một số loại thuốc phải dùng vị đắng để kích thích sự phân tiết của tuyến tiêu hóa nhằm phát huy tác dụng chữa bệnh. Nếu thêm đường sẽ mất tác dụng này và không đạt kết quả chữa trị. Đường có thể gây cản trở tới việc hấp thu các nguyên tố vi lượng và vitamin, ảnh hưởng tới hiệu quả của một số thuốc giải nhiệt, làm phân giải thành phần hữu ích của một số loại thuốc.

Kinh nghiệm sắc thuốc


Thuốc giải cảm, tiêu hóa: Không nên sắc lâu, khoảng 15 - 20 phút là được. Nên uống nóng, nước thuốc không lấy quá ít. Sau khi uống tránh gió, tránh ăn đồ sống và lạnh.


Thuốc thanh nhiệt, giải độc, cầm máu: Thời gian sắc thuốc thường là sau khi sôi 30 phút. Uống nóng, kiêng ăn cay, đắng và những món có mùi tanh như tôm, cua, cá, sò hến. Với những bệnh nhân bị xuất huyết như thổ huyết, chảy máu cam, nước thuốc cần lấy đặc, uống ấm chứ không uống nóng để tránh chảy thêm nhiều máu. Bệnh nhân xuất huyết sau khi uống thuốc cấm dùng rượu, thuốc và chất kích thích.


Thuốc chống nôn: Uống nguội, nhung không quá lạnh. Nếu uống xong vẫn nôn, lấy gừng sống rửa sạch, giã nát vắt lấy nước đun sôi, uống ấm. Kiêng ăn đồ sống, lạnh, tanh.


Thuốc điều khí: Khi sắc đậy thật kín vung, sau khi sôi, giữ lửa nhỏ để tránh bay khí vị, uống hết khi nước thuốc còn ấm. Kiêng ăn đồ sống, lạnh và đầy hơi.


Thuốc bổ: tránh sắc thuốc vội vàng, to lửa mà phải đun từ từ. Thời gian sắc khoảng 40 - 60 phút. Nước thuốc sắc phải đặc.


Thuốc bổ máu: Cách sắc như thuốc bổ, kiêng uống nguội, nên uống ấm.


Thuốc phong thấp: Nước thuốc nên lấy nhiều một chút để gia tăng lượng đi tiểu, làm cho chất độc theo nước tiểu thải ra ngoài. Không ăn những đồ chua chát.


Thuốc hãm mồ hôi: Mồ hôi là dịch của tim, ra nhiều sẽ hại dương dẫn đến hoa mắt, mỏi mệt, tinh thần phờ phạc. Uống khi nước thuốc còn hơi ấm, làm cho tinh thần được ổn thỏa. Tránh suy nghĩ nhiều, kiêng ăn những thứ gây hao khí, động huyết.


Thuốc chữa ghẻ lở, mụn nhọt: Kiêng ăn những thứ cay đắng, tanh như tía tô, cá tươi, tôm, cua, ếch...


Dụng cụ sắc thuốc: nên sắc bằng nồi đất, ấm đất hoặc đồ tráng men không sứt mẻ. Tuyệt đối không dùng xoong, nồi kim loại sắc thuốc. Nếu sắc bằng nước máy nên lấy 1 ấm để lắng chừng một tiếng hãy dùng, không dùng phần nước lắng bên dưới. Sắc thuốc bằng nước lạnh, không dùng nước nóng hoặc nước sôi để sắc.


Tư vấn tiêu dùng

Cà phê ngăn ngừa cao huyết áp

Uống 1-2 cốc cà phê mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ cao huyết áp
TTO - Các nhà nghiên cứu y học Nhật Bản vừa phát hiện uống 1-2 cốc cà phê mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ cao huyết áp.

Nhóm nghiên cứu do một nhà khoa học tại Trường ĐH Keio làm trưởng nhóm đã tiến hành nghiên cứu trên 4.554 người tuổi từ 20-70 và phát hiện những người không uống cà phê có tỷ suất mắc bệnh cao huyết áp cao nhất. Tỷ suất này thấp nhất ở những người uống 3 cốc cà phê mỗi ngày hoặc nhiều hơn.

“Uống cà phê 1-2 cốc mỗi ngày rất tốt cho thanh niên và người trong độ tuổi trung niên”, tờ Tokyo Shimbun của Nhật dẫn lời các nhà khoa học cho biết.

Chlorogenic acid, một dạng polyphenol có trong cà phê, được xem là chất có tác dụng làm giãn nở mạch máu. Một nhóm các nhà nghiên cứu Nhật Bản khác cũng phát hiện uống 1 cốc cà phê mỗi ngày giúp giảm một nửa nguy cơ ung thư ruột kết ở phụ nữ.

Tuy nhiên, báo cáo cũng cho rằng uống cà phê có thể dẫn tới các rối loạn não-mạch ở người cao tuổi. Uống quá nhiều caffein cũng gây dư axit trong dạ dày.

Cách đây không lâu, một nhóm các nhà nghiên cứu Mỹ cũng công bố uống cà phê không làm tăng huyết áp ở phụ nữ.

TƯỜNG VY (Theo AFP, Todayonline

Trị chứng ngạt mũi, sổ mũi

Ngạt mũi, sổ mũi có thể do bị cảm lạnh hoặc dị ứng hoặc bị viêm nhiễm ở mũi. Chứng bệnh này không gây nguy hiểm nhưng rất khó chịu và ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động.

Tùy từng nguyên nhân, từng trường hợp mà có cách chữa trị khác nhau, dưới đây chỉ xin nêu cách xử trí đối với một số trường hợp hay gặp.

- Đối với trẻ nhỏ, khi bị ngạt mũi, sổ mũi: không nên dùng miệng hút mũi cho trẻ vì có thể lại truyền thêm vi khuẩn cho bé, mà nên dùng một bơm tiêm không lắp kim để hút dịch ở mũi.

- Đối với trẻ lớn hoặc người lớn: cho ít nước muối vào lòng bàn tay và hít vào mũi để cho chất nhày trong mũi loãng ra và thoát ra ngoài. Lưu ý nên hạn chế xì mũi vì vi khuẩn rất dễ ngược theo vòi tai gây viêm tai giữa, hoặc gây viêm xoang, rất nguy hiểm.

- Những người hay bị viêm tai, viêm xoang sau khi bị cảm lạnh có thể bị ngạt mũi, sổ mũi. Có thể ngăn chặn ngạt mũi, sổ mũi bằng cách dùng thuốc nhỏ mũi làm giảm sung huyết, giảm phù nề ở mũi.

Để thuốc có tác dụng tốt, trước khi nhỏ thuốc phải hít một ít nước muối để cho chất dịch trong mũi loãng ra.

Theo Sức khỏe và đời sống

Các vị thuốc từ ổi

Quả ổi được xem như một trái cây bổ dưỡng nhưng nghèo năng lượng, tốt cho người muốn giảm cân
Ổi (Psidium guiava L.), gốc Trung Mỹ, thuộc họ Sim Myrtaceae. Tiểu mộc 3m - 6m. Phì quả to, có thứ gọi là ổi xá lị, có thể nặng đến 930 g, nạc trắng hoặc phớt hồng khi chín.

Nước ta còn có loài ổi nhỏ như ổi kiểng (P.cujavillus Burnf.) quả nhỏ 2cm - 3,5cm, nạc hường, hột nhiều và ổi sẻ (P. littorale Raddi.), phì quả tròn, nhỏ 2,3cm - 3cm, nạc như dâu tây, hột nhỏ...

Quả ổi được xem như một trái cây bổ dưỡng nhưng nghèo năng lượng (tốt cho người muốn giảm cân), nguồn cung cấp các vitamin A và C. Đa số vitamin tập trung trong phần thịt sát với lớp vỏ mỏng bên ngoài quả. Ổi được dùng ăn tươi hay chế tạo thành bánh, kem và nước giải khát, thạch jelly.

Về tác dụng trị tiêu chảy của lá ổi đã được công nhận trong nhiều nghiên cứu lâm sàng, dược học. Lá ổi được chính thức ghi trong Dược điển Hà Lan, dùng làm thuốc trị tiêu chảy.

- Trong một nghiên cứu lâm sàng về tác dụng trị tiêu chảy ở 62 trẻ em bị tiêu chảy, sưng ruột do siêu vi (rotaviral enteritis), thời gian lành bệnh ghi nhận là 3 ngày (87,l%), rút ngắn tương đối rõ rệt so với nhóm đối chứng.

- Một nghiên cứu tại Brazil ghi nhận liều nước chiết từ lá ổi 8 micro gram/ml có hoạt tính chống lại simian rotavirus gây tiêu chảy (82,2%).

- Một nghiên cứu tại Thái Lan, dùng bột lá ổi để trị 122 người tiêu chảy đều cho kết quả tương đương tetracyclin với liều lượng như nhau (500 mg).

Về tác dụng trị bệnh đường ruột, các flavonoid loại quercetin trong lá ổi có hoạt tính trên sự bài tiết acetylcholin trong ruột, kích thích cơ trơn ruột giúp giảm những cơn đau bụng do cơ trơn của ruột co thắt. Ngoài ra, lá ổi còn tác động vào sự tái hấp thu nước nơi ruột. Các lectin trong lá ổi có thể gắn vào E. coli (vi khuẩn thường gây ra tiêu chảy), ngăn chặn vi khuẩn hấp thu vào vách trong của ruột và do đó ngăn ngừa được sự nhiễm trùng ruột.

Về tác dụng kháng sinh, kháng siêu vi và diệt nấm gây bệnh, trong phòng thí nghiệm, các trích tinh từ lá và vỏ thân có tác dụng sát khuẩn đối với các vi khuẩn như Staphylococcus, Shigella, Salmonella, Bacillus, E.coli, Clostridium và Pseudomonas...

- Dịch chiết từ lá ổi bằng nước muối 1:40 có tác dụng diệt Staphylococcus aureus.

- Nước ép tươi từ lá ở nồng độ 66% có hoạt tính diệt siêu vi Tobacco mosaic.

- Nước trích từ lá ngăn chặn được sự tăng trưởng của các nấm Trichophyton rubrum, T.mentagrophytes và Microsporum gypseum...

Một nghiên cứu tại Jordan ghi nhận tác dụng ngăn chặn sự phát triển các mụn trứng cá do các vi khuẩn loại Propioni bacterium acnes gây ra: Tuy không bằng các kháng sinh doxycyclin và clindamycin nhưng có thể hiệu nghiệm trong các trường hợp mụn trứng cá lờn kháng sinh và không dùng được kháng sinh.

Về tác dụng trên hệ tim mạch, có nghiên cứu tại Brazil ghi nhận dịch chiết từ lá ổi có nhiều hoạt tính trên hệ tim mạch và có hiệu quả dùng để trị các trường hợp tim loạn nhịp. Lá ổi còn có tác dụng chống ô xy hóa có lợi cho tim, bảo vệ tim, và cải thiện các chức năng của tim.

Về tác dụng hạ đường huyết:

- Nghiên cứu tại Hàn Quốc ghi nhận hoạt tính ức chế men protein tyrosine hosphatase 1B của dịch chiết lá ổi. Hoạt tính này cho thấy nước lá ổi thử trên chuột có tác dụng trị đái tháo đường type 2.

- Trong một nghiên cứu tại Đài Loan trên chuột, nước ép từ quả ổi tươi chích qua màng phúc mạc với liều 1g/kg giúp làm hạ đường huyết tạo ra bởi alloxan, như vậy ăn ổi tươi cũng có thể hữu ích cho người đái tháo đường.

- Một số nhà nghiên cứu đã kết luận: Ổi tươi, chứa lượng cao các chất xơ hòa tan (pectin) và không hòa tan) có thể giúp hạ đường huyết một cách an toàn...

Theo Thầy thuốc & sức khỏe

Su hào làm thuốc

Nếu bị đờm nhiều, có thể dùng thân hoặc lá su hào cắt miếng, xào dầu vừng. Nếu bị nhọt độc, su hào giã nát đắp chỗ đau cũng có tác dụng rất tốt.

Su hào còn gọi là phiết làn, giới lan, giá liên, ngọc man thanh. Lá thân hình cầu của cây su hào, thực vật thuộc họ cải. Tính mát, vị ngọt hơi đắng. Thành phần chính: anbumin, đường, sợi thô, calci, phôtpho, sắt, vitamin C, axit nicotic. Lá có thể làm thuốc.

Tác dụng: hóa đờm, giải khát, thông bụng, giải độc, lợi thủy, tiêu viêm, giúp dạ dày. Chủ yếu dùng lúc bị nước đái đục, đi ngoài ra máu, nhọt độc không rõ nguyên nhân, tì hư hỏa vượng, bụng lạnh nhiều đờm, trúng phong bất tỉnh.

Cách dùng: nấu canh, ăn sống hoặc nấu với thịt. Giã nát đắp ngoài da hoặc nghiền bột hít vào mũi.

Kiêng kị: ăn nhiều hao khí tổn huyết.

Chữa trị:

1. Ðờm nhiều thở gấp:

- Thân hoặc lá su hào rửa sạch cắt miếng. Cho dầu mè (vừng) vào xào làm canh ăn. Ngày một đến hai lần.

- Su hào bỏ vỏ giã nát, thêm mật ong ăn với nước đun sôi.

2. Bụng lạnh nhiều đờm: su hào đun với thịt dê ăn.

3. Tì hư hỏa vượng, miệng khô, khát: su hào cắt miếng giã nát, cho thêm đường trộn với nước đun sôi, ăn sống.

4. Âm nang sưng to: Su hào, thương lục cắt miếng, giã nát nhừ đắp bên ngoài.

5. Nhọt độc không rõ nguyên nhân: su hào giã nát nhừ đắp chỗ đau. Uống nước ép sau khi giã nát su hào.

Theo Nhân dân

Củ cải tiêu độc

Củ cải có tác dụng giải trừ độc tố gây ung thư trong thức ăn. Loại củ này dùng khi đầy bụng, ho đờm mất tiếng, thổ huyết, chảy máu mũi, kiết lị, đau đầu, bị thương rộp miệng, chân run có tác dụng tốt. Ăn sống có thể đề phòng sỏi túi mật.

Củ cải còn gọi là la bốc, thái bao, tử tùng, củ cải trắng, mộng bạch. Là rễ của cây củ cải, thực vật họ cải. Tính mát, vị đắng, hơi ngọt.

Thành phần chính có vitamin C, acid nicotic, calci, đường. Ăn sống có thể giúp tiêu hóa, giải khát, thuận khí. Gần đây, nhiều công trình nghiên cứu chứng minh trong củ cải có chất lignin, chất tổng hợp có thể nâng cao khả năng hoạt động của tế bào cơ thể, tăng cường chống khuẩn, chống ung thư. Củ cải lại có thể giải trừ độc tố có thể gây ung thư trong thức ăn, do đó gọi là thức ăn phòng ung thư. Thường ăn, có lợi cho sức khỏe. Có thể xắt lát, phơi khô dùng dần.

Tác dụng: Tiêu thức ăn, hóa đờm, khoan trung, thuận khí, thanh nhiệt, giải độc. Chủ yếu dùng khi đầy bụng, ho đờm mất tiếng, thổ huyết, chảy máu mũi, kiết lị, đau đầu, bị thương rộp miệng, chân run, ăn sống có thể đề phòng sỏi túi mật.

Cách dùng: Ăn sống, nấu, xào, nướng. Dùng làm thuốc, nấu canh, ép nước uống, hoặc đắp ngoài, nhỏ mũi...

Kiêng kỵ: Người tì vị yếu, khó tiêu thì không ăn, không dùng với địa hoàng, hà thủ ô, nhân sâm, người khí hư thì không dùng đơn độc, có thể ăn cùng với gừng.

Chữa trị:

1. Ăn uống quá mức, dạ dày quá chua, nôn ra nước chua, tiêu hóa không tốt: ăn sống củ cải hoặc ăn sợi củ cải tươi ướp lạnh. Mỗi lần một lượng vừa đủ.

2. Nôn mửa:

- Củ cải rửa sạch, giã nát, nấu với mật ong, nhừ thì ăn.

- Củ cải trắng: một củ, giã nát lấy nước, cho thêm đường đỏ. Uống với nước đun sôi.

3. Ðau dạ dày: Củ cải trắng giã nát lấy nước. Cho thêm nước gừng. Sau mỗi bữa cơm uống nửa chén nước.

4. Viêm ruột, tiêu chảy: 50 g củ cải khô, sắc uống. Ngày hai, ba lần.

5. Kiết lỵ:

- 250 g củ cải, 30 g đường trắng. Củ cải giã nát lấy nước, cho thêm đường trắng. Uống với nước đun sôi. Ngày hai lần.

- Nước củ cải: 60 ml, mật ong: 30 ml, nước gừng: 15 g, nước trà đặc: một chén. Hòa đều, đun nóng lên mà uống. Ngày hai, ba lần.

Theo sách Thức ăn vị thuốc, Viện Nghiên cứu và phổ biến kiến thức bách khoa

Thứ ba, tháng mười một 22, 2005

Hồng vàng - món ăn của Thượng đế

21:34:10, 12/09/2005



Với vị ngọt dịu, thơm, trái hồng vàng trong tiếng Hy Lạp được gọi là “món ăn của Thượng đế”. Tuy nhiên, những gì mà trái hồng cung cấp cho chúng ta không chỉ có thế, chúng còn được biết đến với các lợi ích: giàu vitamin A, kali, can-xi, sắt, man-gan, chất xơ…


Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng lượng các chất này có trong hồng còn nhiều gấp đôi trong quả táo. Kết quả nghiên cứu từ trường Y khoa Hadassah thuộc ĐH Hebrew ở Jerusalem cho biết ăn một quả hồng mỗi ngày có thể chống lại nguy cơ bệnh tim vì trong quả hồng có chất chống oxy hóa có khả năng ngăn chặn sự phát triển của cholesterol xấu tích tụ trong máu. Tác dụng này đặc biệt được phát huy trong trái hồng chín. Một nghiên cứu khác ở Korea còn cho thấy ăn nhiều hồng cùng với các lọai trái cây khác giúp giảm nguy cơ ung thư ruột kết ở phụ nữ.

Ngoài cách ăn quả chín tươi như các lọai trái cây thông thường, bạn còn có thể ăn hồng với các cách chế biến khác như:

- Dùng quả tươi còn sống ăn với bơ hay kem.

- Trộn với gia vị để ăn kèm với bánh mì, bánh ngọt hay bánh xốp.

- Trộn với các lọai rau xanh giống như salad.

- Làm sốt hồng bằng ruột quả hồng chín, rưới lên trên các món gà, vịt, cá và thịt heo.

P.Dung (theo Health)

Uống trà để tránh tiểu đường

23:49:12, 20/11/2005



Các nhà khoa học Mỹ đã đi đến kết luận trên sau một cuộc nghiên cứu trên những con chuột bị bệnh tiểu đường.

Nhóm nghiên cứu đã cho những con chuột này uống trà xanh, trà đen, trà ô long với chưa đến 5 tách/ngày, trong vòng 3 tháng và sau đó theo dõi các thành phần hóa học trong máu cũng như thị giác của chúng. Kết quả cho thấy, việc uống trà thường xuyên giúp gia tăng hoạt động của insulin ở những con chuột này gấp 15 lần so với bình thường, từ đó giúp đẩy lùi bệnh tiểu đường cũng như những biến chứng rắc rối của căn bệnh này, chẳng hạn như bệnh đục nhân mắt.

U.P
(PTI

Tảo biển giúp ngừa ung thư

21:35:58, 21/11/2005


Ảnh Quickspice.com
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học California (Mỹ) cho thấy, tảo biển có thể giúp ngăn ngừa một số căn bệnh ung thư, nhất là ung thư vú do có tác dụng làm giảm lượng estrogen - tác nhân gây ung thư.

Nghiên cứu chế độ ăn uống của phụ nữ Mỹ và Nhật Bản cho kết quả: phụ nữ xứ hoa anh đào có tỷ lệ ung thư vú thấp hơn do trong chế độ ăn có nhiều tảo biển. Theo các nhà khoa học, những phụ nữ thường bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt nếu bổ sung trong chế độ ăn hằâng ngày 700 mg tảo biển thì có chu kỳ kinh nguyệt đều đặn trở lại và mức estradiol trong máu - một dạng estrogen - giảm đi đáng kể. (MSN)



Ích lợi của quả dâu




Ăn dâu giúp giảm nguy cơ bị tiểu đường - Ảnh: Hort

Ăn nhiều dâu tây có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Michigan (Mỹ) cho thấy, chất anthocyanins có trong dâu tây có tác dụng làm tăng lượng insulin được sản sinh ra đến 50%, từ đó giúp ngăn chặn bệnh tiểu đường týp 2. Riêng đối với những bệnh nhân bị tiểu đường, chất anthocyanins giúp cơ thể họ kiểm soát được lượng đường glucose. Ngoài ra, chất này còn rất tốt cho tim và hạn chế nguy cơ bị ung thư. (WedMD)



Ăn kiêng dễ thiếu kẽm




Kẽm có nhiều trong pho -mát - Ảnh: Wikipedia


Theo các chuyên gia y tế Anh, thiếu kẽm gây các triệu chứng như hệ miễn dịch bị suy yếu gây cảm lạnh hay nhiễm trùng, vết thương lâu lành, tiêu hóa kém, suy nhược thần kinh, dễ mệt mỏi và bị bệnh tim. Đặc biệt ở những người ăn kiêng, tỷ lệ thiếu chất kẽm thường rất cao do những hợp chất trong rau và ngũ cốc làm giảm lượng hấp thụ kẽm vào cơ thể. Có thể bổ sung kẽm từ các thực phẩm như bột mì, sò, hạt bí ngô, rong biển, mè, pho-mát, hạt hướng dương... Hoặc có thể bổ sung kẽm từ thuốc bằng cách uống 15-20 mg/ngày. (Indiatimes)

Chữa tóc bạc sớm theo kinh nghiệm dân gian

Chữa tóc bạc sớm theo kinh nghiệm dân gian


Quả dâu chín chữa tóc bạc sớm
Tỏi 2 nhánh, gừng tươi 5 g, giã nát; bôi lên tóc mỗi buổi tối trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau gội thật sạch đầu bằng nước ấm, làm liên tục trong 3-4 tháng.

Tình trạng tóc bị bạc sớm thường do di truyền, dinh dưỡng và trạng thái tinh thần gây ra. Để chữa tóc bạc sớm, người bệnh phải dùng thuốc, nhưng ăn uống cũng góp phần làm giảm các triệu chứng, giữ cho tâm trạng vui vẻ. Ăn nhiều thực phẩm giàu chất dinh dưỡng... cũng đem lại hiệu quả tốt cho tình trạng trên.

Một số bài thuốc dân gian chữa tóc bạc sớm:

- Tim lợn kết hợp với 10 g bách tử nhân đã tán nhỏ đem hấp chín.

- Cà rốt 150 g, tủy lợn sống 30 g. Cà rốt rửa sạch ninh cùng với tủy lợn, ngày 2 lần.

- Vừng đen 300 g rang chín, hà thủ ô 300 g sấy khô hai thứ, tán mịn; đường trắng vừa đủ dùng, trộn lẫn với nhau, mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần 2-3 thìa cà phê hòa với nước sôi.

- Long nhãn 50 g, mộc nhĩ đen 3 g, đường phèn vừa đủ cho cả 3 thứ vào đun sôi kỹ rồi uống.

- Quả dâu rửa sạch, ép lấy nước, cho vào nồi (nồi đất) cô thành cao để uống.

Theo VNE, Sức khỏe & đời sống

Cây Đinh Lăng - vị thuốc quý

Cây Đinh Lăng
Không chỉ là cây cảnh thông dụng, cây rau được ưa dùng, đinh lăng còn là một vị thuốc nam có tính năng chống dị ứng, giải độc thức ăn, chống mệt mỏi và làm tăng sức dẻo dai của cơ thể.

Đinh lăng còn được gọi là cây gỏi cá. Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông chim, mép khía có răng cưa. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành tán. Quả dẹt, dài 3-4mm, dày khoảng 1mm. Lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng, dân gian gọi nôm na là mùi “thuốc bắc”. Lá tươi không có mùi thơm này.

Trong dân gian, đinh lăng thường dùng để trị ho ra máu, chữa tắc tia sữa, làm mát huyết, lợi tiểu, chữa mẫn ngứa. Lá đinh lăng cũng được dùng để nấu canh với thịt, cá để bồi bổ cho sản phụ, người già hoặc người ốm mới dậy.

Theo y học cổ truyền, rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ. Nói chung, ngoài tác dụng lương huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lăng gần giống như nhân sâm.

Theo nghiên cứu của Học viện Quân sự Việt Nam, dung dịch cao đinh lăng có tác dụng:

- Tăng biên độ điện thế não, tăng tỉ lệ các sóng alpha, bêta và giảm tỉ lệ sóng delta. Những biến đổi này diễn ra ở vỏ não mạnh hơn so với ở thể lưới.

- Tăng khả năng tiếp nhận của các tế bào thần kinh vỏ não với các kích thích ánh sáng.

- Tăng nhẹ quá trình hưng phấn khi thực hiện phản xạ trong mê lộ.

- Tăng hoạt động phản xạ có điều kiện gồm phản xạ dương tính và phản xạ phân biệt.

Nhìn chung, dưới tác dụng của cao đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn.

Một vài đơn thuốc có sử dụng Đinh Lăng

Bồi bổ cơ thể, ngừa dị ứng

Lá đinh lăng tươi từ 150-200 g, nấu sôi khoảng 200 ml nước. Cho tất cả lá đinh lăng vào nồi, đậy nắp lại, sau vài phút, mở nắp và đảo qua đảo lại vài lần. Sau 5-7 phút, chắt ra để uống nước đầu tiên, đổ tiếp thêm khoảng 200 ml nước vào để nấu sôi lại nước thứ hai. Cách dùng lá tươi thuận tiện vì không phải dự trữ, không tốn thời gian nấu lâu, lượng nước ít, người bệnh dễ uống nhưng vẫn đảm bảo được lượng hoạt chất cần thiết.

Chữa tắc tia sữa

Rễ đinh lăng 40 g, gừng tươi 3 lát, đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.

Chữa nổi mề đay, mẩn ngứa do dị ứng

Lá đinh lăng khô 80 g, đổ 500 ml nước sắc còn 25 0ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày.

Ho suyễn lâu năm

Rễ đinh lăng, bách bộ, đậu săn, rễ cây dâu, nghệ vàng, rau tần dày lá tất cả đều 8 g, củ xương bồ 6 g; Gừng khô 4 g, đổ 600 ml sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.

Phong thấp, thấp khớp

Rễ đinh lăng 12 g; Cối xay, hà thủ ô, huyết rồng, cỏ rễ xước, thiên niên kiện tất cả 8 g; Vỏ quít, quế chi 4 g (Riêng vị quế chi bỏ vào sau cùng khi sắp nhắc ấm thuốc xuống). Đổ 600 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.

Theo Sức khỏe & đời sống

Vitamin D giảm nguy cơ té ngã ở người già

Cá, một trong những nguồn cung cấp vitamin D
TTO - Bổ sung vitamin D có thể giúp giảm nguy cơ té ngã ở người cao tuổi, theo kết quả một nghiên cứu được công bố trên tờ tạp chí của Hiệp hội lão khoa Mỹ.

Trong nghiên cứu của mình, các nhà khoa học Australia đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin D ở 625 người cao tuổi. Tất cả những người được nghiên cứu không bị thiếu hụt vitamin D.

Những người tham gia nghiên cứu được chia ngẫu nhiên thành nhóm được bổ sung vitamin D và nhóm dùng giả dược trong thời gian 2 năm. Tất cả những người này đều được nhận 600mg canxi mỗi ngày. Kết quả, các nhà nghiên cứu nhận thấy nhóm được bổ sung vitamin D giảm được nguy cơ té ngã 27-37% so với nhóm dùng giả dược.

“Nghiên cứu này cho thấy cần tăng cường bổ sung vitamin D ở người cao tuổi”, tiến sĩ Leon Flicker tại Trường ĐH tây Australia và đồng sự cho biết.

Vitamin D thường có trong cá béo, gan, dầu cá, ngũ cốc, sữa, nước trái cây…

TƯỜNG VY (Theo Reuters)

Món ăn tốt giọng

Quả sung cắt lát nấu với nước pha đường phèn để uống, ngậm nuốt dần giúp giữ giọng
Với những người làm nghề ca sĩ, giáo viên, phát thanh viên, việc giữ giọng rất quan trọng. Có nhiều loại thức ăn nước uống giúp phòng chữa các bệnh vùng hầu họng và giữ giọng rất tốt như trám trắng, dứa, sung...

Quả trám trắng

Trám trắng (Canarium album Raeusch) có vỏ màu xanh lục. Trám đen (Canarium nigrum Engl) còn gọi là cây bùi, vì quả ăn rất bùi, màu tím sẫm. Quả trám trắng vị chua, ngọt bùi, béo, tính ấm (có sách viết lương - hơi hàn), vào 2 kinh phế và vị (có sách viết vào phế và thận) có tác dụng sinh tân dịch, giải khát, thanh giọng, giải độc cá, giã say rượu. Theo Tây y, cùi trám có đạm, béo, đường, vitamin C, các chất khoáng như canxi, phốtpho, kali, manhê, sắt, kẽm…

Quả trám trắng có thể làm nhiều món ăn uống theo tập quán từng địa phương. Đơn cử một số món như sau:

Cổ họng khô, mất ngủ: Dùng ngày 20-30 quả trám trắng (bỏ hột) đập dập nấu nước uống. Có thể thêm gừng, đường hay mật ong để uống.

Viêm họng (cấp, mãn) amidan, khô cổ, mất tiếng: Dùng trám muối như chanh muối để ngậm hay pha nước uống. Có thể dùng trám tươi, giã quả lấy nước uống hoặc để hãm, nấu nước uống.

Ho khản cổ: Trám tươi 4 quả bỏ hột, giã nát với huyền sâm 10g thái lát. Cho vào nồi đất đổ ngập nước, nấu uống.

Chữa chứng viêm nhiệt: Trám tươi xanh 5-6 quả, củ cải 1 cân (lượng thay đổi theo số người dùng). Nấu nhừ trong vài giờ, lấy uống nước và ăn cái.

Quả sung

Quả sung vị ngọt, tính bình; công dụng bổ khí, kiện vị, nhuận phế, lợi hầu, nhuận tràng; chủ trị khí hư, hụt hơi, kém ăn, mệt mỏi, phế nhiệt, họng sưng đau, khô rát. Các công trình nghiên cứu còn cho biết quả sung có tác dụng phòng chống ung thư, ngăn tế bào ung thư phát triển, chống xơ cứng động mạch, chữa cao huyết áp. Một số công dụng từ quả sung:

Quả sung cắt lát nấu với nước pha đường phèn để uống, ngậm nuốt dần.

Sung muối, dầm đường, ngậm, pha nước đường uống.

Sung ngâm với mật ong, lấy nước sung để ngậm.

Nấu cháo với sung ăn sáng rất tốt.

Giá làm từ đậu xanh, đậu đen, đậu nành

Rửa sạch nhai sống, ngậm nuốt nước tức thì, hoặc đến bữa cơm ăn giá nộm, giá trụng nước sôi… Giá có tác dụng làm hết khản cổ, giọng sẽ trong, khỏe.

Nước quả dứa

2 miếng dứa, 3 củ cà rốt và một nắm lá bồ công anh, rửa sạch, ép lấy nước uống. Có tác dụng điều trị tốt nhất chứng bệnh đau họng.

Theo Sức khỏe & đời sống

Kẽm - nguyên tố thiết yếu cho sự sống

Kẽm có nhiều trong hải sản
Ở Cai-rô (Ai Cập) và một số vùng châu Phi, do trong thức ăn phổ biến thiếu kẽm nên bộ phận sinh thực phát dục không bình thường, lòng ham muốn về tình dục thấp, một số phụ nữ còn không thể mang thai.

Kẽm và tuyến tiền liệt

Quan hệ giữa kẽm và tuyến tiền liệt là cực kỳ mật thiết. Theo các nhà khoa học, trong tuyến tiền liệt mạnh khỏe và trong dịch của tuyến tiền liệt tiết ra đều chứa rất nhiều kẽm. Hàm lượng kẽm ở tuyến tiền liệt là nhiều nhất so với các tuyến khác. Quan trọng hơn là “thành phần kẽm trong các tuyến bị bệnh lý ác tính thì giảm xuống”. Có thể thấy, sự khỏe mạnh của tuyến tiền liệt và hàm lượng kẽm trong hệ thống của nó có quan hệ mật thiết.

Tiến sĩ J. Mayer - giáo sư dinh dưỡng học Đại học Harvard (Mỹ) và Andre Voisin - nhà dinh dưỡng học nổi tiếng của Pháp, đã chỉ ra rằng hàm lượng nguyên tố kẽm có thể ảnh hưởng tới sự phát dục của khí quan (bộ phận) sinh thực, khả năng tình dục (giới tính) và chi phối trạng thái hoạt động của tuyến tiền liệt.

Tiến sĩ J. Mayer còn cho biết, kẽm có liên hệ tương đối với khả năng tình dục, giới tính của con người, thiếu kẽm sẽ dẫn tới chức năng về giới tính thất thường, số lượng tinh trùng sẽ giảm; Ở phụ nữ, thiếu kẽm cũng làm giảm dục tính. Voisin còn cho biết, kẽm có tác dụng bảo vệ đối với tổ chức cơ thể. Hàm lượng kẽm của tuyến tiền liệt nếu giảm 35% so với hàm lượng bình thường sẽ gây phì đại nhẹ tuyến tiền liệt, nếu giảm 38% sẽ dẫn tới viêm tuyến tiền liệt mạn tính và giảm 66% sẽ phát triển thành ung thư.

Kẽm và chuyện “chăn gối”

Một số cặp vợ chồng tình cảm, ân ái vốn nồng nàn, song đột nhiên luôn tranh cãi nhau vì những chuyện vặt vãnh, thậm chí sống riêng, và tệ hơn là nghi bạn đời của mình đã có “kẻ thứ 3”… Khi đó, nếu kiểm tra sức khỏe của họ có thể tìm ra đáp án chính xác: Thiếu kẽm và sắt.

Chúng là kẻ “phá bĩnh” chuyện “gối chăn”. Có một số phụ nữ trung niên, do kinh nguyệt rối loạn hoặc trĩ xuất huyết, lại thêm sử dụng viên tránh thai và kém ăn… có thể làm thời gian hành kinh kéo dài, lượng kinh nguyệt tăng nhiều, chu kỳ rút ngắn, làm mất đi lượng lớn sắt, dễ phát sinh hiện tượng thiếu sắt. Thiếu sắt có thể ảnh hưởng tới quá trình tạo máu, dẫn tới thiếu máu. Làm cơ thể mệt mỏi, dễ cáu gắt, tâm lý, tình cảm không ổn định.

Cũng như vậy, kẽm tham gia vào hoạt động của men, thiếu kẽm có thể ảnh hưởng tới chức năng giới tính, dẫn tới tính dục giảm, ảnh hưởng đến đời sống tình dục của vợ chồng. Ngoài ra ăn đường quá nhiều, uống nhiều rượu cũng làm tăng tiêu hao kẽm trong cơ thể.

Bổ sung kẽm cho cơ thể

Muốn đảm bảo cho cơ thể có đủ kẽm, nên điều chỉnh việc ăn uống, sinh hoạt điều độ. Kẽm có nhiều trong các loại thịt động vật, trứng, trai, sò, lạc, đào, cà rốt, tiểu mạch, bánh mì bột thô, khoai tây… Các nhà khoa học đã tìm ra trong tuyến tiền liệt cơ thể người, có chứa một chất gọi là nhân kháng khuẩn của tuyến tiền liệt. Đó là một loại hợp chất của kẽm bổ sung.

Kẽm làm tăng hàm lượng của nhân kháng khuẩn, đó là một phương pháp trị liệu tốt, từ gốc. Tuy nhiều bác sĩ muốn thông qua uống kẽm sunfat, hoặc kẽm gluconat… để làm tăng hàm lượng nguyên tố kẽm trong tuyến tiền liệt, nhưng thời gian dùng thuốc rất dài mà hiệu quả trị liệu cũng không lý tưởng. Vậy làm thế nào mới làm tăng hàm lượng kẽm nguyên tố trong tuyến tiền liệt?

Theo kinh nghiệm của một bệnh viện ở Bắc Kinh (Trung Quốc), áp dụng phương pháp dùng dòng điện một chiều dẫn ion kẽm vào trong trực tràng, sau đó tiến hành tiếp trị liệu phối hợp, bởi việc dẫn chất kháng sinh vào trong trực tràng và lý trị liệu có hiệu quả tương đối tốt. Qua khảo sát, sau 20 lần trị liệu, hàm lượng kẽm trong tinh dịch tăng lên rất nhanh, nhiều bệnh nhân đều thuyên giảm. Do sự tăng lên của nhân kháng khuẩn nội nguồn, tỷ lệ phát bệnh sau điều trị cũng tương đối thấp. Liệu pháp dẫn ion kẽm vào trực tràng nhờ dòng điện một chiều còn có thể trị liệu bệnh bất dục nam tính do nguyên tố kẽm gây ra.

Theo Sức khỏe & đời sống

Thứ sáu, tháng mười một 18, 2005

Đồ ngọt giúp giảm stress

23:31:32, 17/11/2005

Thức ăn có độ ngọt vừa phải có thể giúp khắc phục được chứng stress liên quan đến hormone. Nhóm nghiên cứu tại Đại học Cincinnati (Mỹ) đã tiến hành thí nghiệm trên chuột và nhận thấy những con chuột thường ăn chất ngọt có mức độ stress thấp hơn những con khác.


Người ta cho rằng cơ quan điều khiển phản ứng đối với stress trên não bộ có thể sẽ thay đổi phản ứng dưới tác dụng của đường. Các chuyên gia hy vọng phát hiện trên sẽ giúp ích trong việc điều trị stress ở người nhưng cũng cảnh báo rằng ăn ngọt quá nhiều có thể gây béo phì và làm giảm sức đề kháng.

Đ.H
(Theo BBC

Tác hại của cà phê đối với bào thai

23:49:46, 16/11/2005

Phụ nữ đang mang thai uống từ 8 tách cà phê/ngày trở lên đối mặt với nguy cơ sẩy thai hoặc con chết ngay sau khi chào đời cao gấp đôi so với người không uống cà phê.

Sau khi nghiên cứu 88.482 thai phụ, nhóm khoa học gia thuộc Đại học Aarhus (Đan Mạch) phát hiện mức độ nguy hiểm cho bào thai tăng 33% đối với những bà mẹ uống từ 4-7 tách cà phê/ngày, 59% nếu uống quá 8 tách/ngày. Theo các chuyên gia, thai phụ không nên uống quá 3 tách cà phê/ngày. (Reuters)

T.M

5 loại gia vị có tác dụng trị bệnh

09:48:43, 18/11/2005



Đó chính là 5 thành phần trong hỗn hợp bột cà ri của Ấn Độ, gồm: hạt thìa là, hạt mùi, bột nghệ, hạt mù tạt và bột ớt đỏ. Các loại gia vị này trong hỗn hợp bột gia vị gọi là bột cà ri được người Ấn Độ sử dụng không chỉ vì chúng có khả năng gia tăng mùi vị cho món ăn mà còn vì chúng có tác dụng phòng, trị bệnh và tăng cường sức khỏe cho người dùng.


Với các mùi vị đặc trưng - ớt nóng; nghệ hơi hắc và có màu vàng; hạt mù tạt cay; hạt mùi thơm nhẹ; hạt thìa là thơm ấm – hỗn hợp này vừa tạo ra sự cân đối vừa tạo ra sự tương phản trong mùi vị của món cà ri truyền thống Ấn Độ. Nhưng không chỉ thế, các loại gia vị này còn mang những lợi ích nhất định đối với sức khỏe. Một số chuyên gia dinh dưỡng cho rằng củ nghệ đóng vai trò lớn trong việc làm giảm sự phát triển của căn bệnh alzheimer, làm mau lành vết thương. Các bộ phận của cây thìa là không chỉ là nguồn cung cấp chất sắt mà cũng giống như hạt mù tạt, nó có tác dụng ngăn ngừa ung thư và kích thích tiêu hóa. Tăng cường chất xơ và chống lại sự viêm nhiễm là công dụng của cây rau mùi. Ngòai ra, một số nghiên cứu ở Mỹ còn chỉ ra rằng cây mùi cũng có tác dụng làm giảm cholesterol. Ớt đỏ giảm đau và chống lại sự xung huyết cũng như chứng loét dạ dày, đồng thời tăng cường sức khỏe tim mạch.

Bạn cũng có thể tự chế biến món ăn với cà ri tại nhà, với các nguyên liệu không khó kiếm và cũng không mất nhiều thời gian.

Công thức làm món cà ri gà


Chuẩn bị: 10 phút, nấu: 15 phút.

Nguyên liệu: ½ muỗng hạt mù tạt nghiền nhỏ; ¼ muỗng hạt thìa là nghiền nhỏ; 1 chén cà chua chín bỏ hột, nghiền nát; 1 muỗng dầu cải; ¼ muỗng ớt bột khô; ¼ muỗng bột nghệ; muối, bột gia vị, hành + tỏi khô băm nhuyễn; ½ kg ức hoặc đùi gà; 3/4 chén nước cốt dừa.

Chế biến:
- Gà chặt miếng vừa ăn ướp với hành, tỏi, bột gia vị trong khoảng ½ tiếng, chiên với lửa lớn cho vàng mặt ngoài.
- Trộn đều cà chua và dầu.
- Làm nóng chảo, bỏ bột của hạt thì là và mù tạt vào, đảo đều, đun trong 2 phút cho đến khi có mùi thơm, thêm hỗn hợp cà chua + dầu vào đảo đều, nấu trong 1 phút, thêm bột nghệ, ớt bột và muối, tiếp tục đảo đều rồi bỏ gà vào, nấu trong 1 phút, thêm nước cốt dừa nấu với lửa nhỏ trong 10 phút, nêm nếm vừa ăn.

Thưởng thức: ăn nóng với cơm.

Thành phần dinh dưỡng: Calories: 219; chất béo: 12g; protein: 24g; cholesterol: 71mg; calcium: 18mg; natri: 115mg; chất xơ: 1g; chất sắt: 2mg; hidratcarbon: 4g.


Phương Thanh (theo Health)

Các loại hoa cúc chữa bệnh

Để chữa đau đầu, lấy hoa cúc bách nhật, lá mùi tây (ngò tây) mỗi vị 5 g; ngải cứu 10 g; lá chanh, hương nhu mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang, dùng trong 5 ngày liền.

Các bài thuốc từ cúc bách nhật

Là loại cây thân thảo, sống lâu năm, trên thân phủ lông mềm, cao 25-55cm. Lá mọc đối, hình bầu dục. Hoa màu đỏ tía, họp thành khóm, dày đặc, dáng hình cầu. Theo Đông y, cúc bách nhật vị ngọt hơi chát, tính bình, tác dụng khử đờm, bình suyễn, tiêu viêm, chống ho. Nó được dùng chữa hen phế quản, viêm phế quản cấp hay mạn, ho gà, lao phổi, ho ra máu, đau mắt, đau đầu, chữa sốt ở trẻ em, khóc thét về đêm, lỵ. Liều dùng 9-18g, dạng sắc.

Hen phế quản: Hoa cúc bách nhật, tỳ bà điệp (lá nhót), bảy lá một hoa mỗi vị 6 g, quả nhót 10 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 60 ml nước thuốc sắc. Dùng 3 ngày liền.

Trẻ em khóc đêm: Hoa cúc bách nhật 5 g, xác ve sầu 3 g, cúc hoa 2 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 300 ml, uống 3 ngày.

Bạch cúc

Bạch cúc tức là cúc trắng, là loại thân thảo, mọc thành bụi cao 60-90cm. Lá hình xoắn. Ra hoa vào tháng 9-11 hằng năm.

Theo Đông y, bạch cúc vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn, tác dụng tán phong thanh nhiệt, mát gan, sáng mắt, chữa phong nhiệt cảm mạo, đau đầu, tăng huyết áp, chóng mặt nhức đầu, mắt đỏ sưng đau, chảy nước mắt. Liều dùng thông thường dưới dạng thuốc sắc là 9-15 g. Có thể dùng tươi: giã nhỏ đắp vào chỗ đau hay mụn nhọt, ghẻ lở.

Tăng huyết áp: Bạch cúc 10 g, hoa hòe 8 g, lạc nhân (đậu phộng) 3 g. Sắc uống ngày một thang, uống trong 10 ngày liền.

Hoa mắt chóng mặt: Bạch cúc, hoa thiên lý mỗi vị 10 g, ngải cứu 12 g; rau má, lá đinh lăng mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống liền 5 ngày.

Đau đầu: Bạch cúc 9 g, hoa nhài 3 g, rau má 10 g, cúc bách nhật 5 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống liền 3-5 ngày.

Kim cúc

Kim cúc còn gọi là cúc hoa vàng hay hoàng cúc; là loại cây thân thảo cao 0,8-1 m, chia nhiều cành nơi gần ngọn. Hoa mọc ở ngọn cây thành cụm có khi mọc hoa ở ngọn cành hay nách lá. Quả có mào lông thường vào tháng 10-12 hoặc kéo dài tới tháng 5 năm sau. Bộ phận dùng làm thuốc là quả, hoa kim cúc.

Đông y cho rằng kim cúc vị đắng - cay, tính hơi ôn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt sưng đau, đau mắt đỏ có sưng, đau đầu chóng mặt, chữa cảm lạnh, cúm, viêm não nhẹ, viêm mũi, viêm da mủ, viêm vú, hoa mắt, huyết áp cao, viêm gan, kiết lỵ, chảy nước mắt nhiều...

Cảm mạo phong nhiệt: Kim cúc 20 g, củ sắn dây 15 g, lá dâu tằm 10 g, rễ cây lau 8 g; bạc hà, cam thảo mỗi vị 5 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần.

Đinh nhọt: Kim cúc, bồ công anh mỗi vị 30 g; từ hoa địa linh 20 g; kim ngân 6 g. Sắc uống vào lúc đói, ngày một thang chia 3 lần, uống 3 ngày liền.

Viêm tuyến vú: Kim cúc 20 g; kim ngân hoa, bồ công anh, cam thảo mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần cho đến lúc khỏi. Bên ngoài dùng lá kim cúc cùng hành, muối, giã nhỏ đắp nơi đau ở vú một lần trong ngày.

Cúc mốc

Cúc mốc còn gọi là nguyệt bạch, là loại cây thân gỗ nhỏ, nhiều nhánh, cành non, có lông trắng, cao 0,6-1 m. Hoa mọc ở nách lá, hoa cái mọc xung quanh, hoa lưỡng tính ở giữa. Hoa ra vào mùa xuân và kết quả vào tháng 1-3. Theo y học cổ truyền, cúc mốc vị cay, thơm, tính mát, không độc, làm tan màng nhầy, sáng mắt, trừ uế khí. Nó được dùng chữa thổ huyết, chảy máu cam và nhiều chứng khác về huyết; chữa sởi, lở, ù tai, trị ho và làm thuốc điều kinh...

Chữa ho: Lá cúc mốc 15 g, lá húng chanh 20 g. Sắc uống ngày một thang trong 5 ngày.

Thổ huyết: Lá cúc mốc 15 g, cỏ nhọ nồi 5 g, lá huyết dụ 8 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần. Uống trong 7-10 ngày liền.

Điều kinh: Lá cúc mốc 20 g, lá ích mẫu 15 g, ngải cứu 10 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 60 ml.

Đầy hơi: Lá cúc mốc 15 g, hạt mít 10 g, vỏ quýt 8 g, gừng 3 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống thuốc lúc nóng.

Cúc vạn thọ

Là loại cây thân thảo mọc đứng cao 0,6-1m, chia nhiều cành. Lá xẻ sâu hình lông chim. Hoa mọc đơn độc hoặc tụ họp, màu vàng hay vàng cam, có đường kính 3-4 cm, cánh hoa nhỏ mỏng. Quả bế có từ 1-2 vẩy ngắn. Bộ phận dùng làm thuốc: hoa, lá, rễ.

Đông y cho rằng cúc vạn thọ vị đắng, mùi thơm, tính mát, tác dụng tiêu viêm, làm long đờm, trị ho. Lá cúc vạn thọ làm mát gan, phổi, giải nhiệt, chữa đau mắt, ho gà, viêm khí quản, viêm miệng, viêm hầu, đau răng; dùng đắp ngoài để trị viêm tuyến mang tai, viêm vú, viêm da mủ. Liều thông thường từ 10-15 g cho dạng thuốc sắc.

Ho gà: Hoa cúc vạn thọ 15 g, đường phèn 10 g. Sắc lấy 150 ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 3-5 ngày.

Đau răng: Hoa cúc vạn thọ 5 cái, lá nhãn 5 lá, muối ăn chừng 15 hạt. Rửa sạch giã nhỏ chia 3 phần đều nhau, mỗi lần đặt một phần thuốc vào nơi răng đau. Còn hai phần ngậm thay đổi mỗi lần một phần.

Chữa đau mắt đỏ: Lá cúc vạn thọ 10 lá, lá dâu non 10 lá. Rửa sạch cho vào ca đổ nước sôi vào và xông hơi nơi mắt đau, để xa sau gần vì gần quá gây bỏng mắt hoặc sức nóng làm giãn mạch và các mao mạch căng vỡ. Ngày làm một lần trong 2-3 ngày.

Mụn nhọt chưa vỡ: Lá cúc vạn thọ 10 g, lá táo ta 15 g, muối ăn 10 hạt. Rửa sạch, giã nhỏ, đắp vào nơi đau. Ngày thay một lần.

Theo Sức khỏe & đời sống, VNE

Món ăn phòng trị cảm cúm

Món ăn phòng trị cảm cúm


Nhức đầu, nóng sốt, ớn lạnh, đau ê ẩm mình mẩy, đau họng, ho... có thể là dấu hiệu của cảm cúm. Một số món ăn sau đây giúp phòng trị cảm cúm:

- Kinh giới 15 g, bạc hà 5 g, đạm đậu xị (đậu đen chế) 10 g, gạo 100 g. Kinh giới, Bạc hà, Đạm đậu xị nấu trong 5 phút từ khi sôi (không nên nấu lâu), lấy nước bỏ bã. Gạo vo sạch nấu cháo, khi cháo chín, thêm nước thuốc, nấu chung. Mỗi ngày 2 lần, ăn lúc nóng, một liệu trình là 3 - 4 ngày. Thích hợp dùng trong bệnh cảm, phát sốt ớn lạnh, đau đầu, đau họng, bứt rứt mất ngủ và thời kỳ đầu liệt thần kinh mặt.

- Phòng phong 15 g, hành 2 cọng, gạo 100 g. Phòng phong, hành nấu lấy nước, bỏ bã. Gạo vo sạch nấu cháo, chờ khi cháo chín thêm vào nước thuốc, nấu cháo loãng. Mỗi ngày 2 lần, ăn ngay lúc nóng, dùng liền 3 ngày. Thích hợp cho người bị cảm lạnh, phát sốt ớn lạnh, sợ gió, ra mồ hôi trộm, đau đầu, đau mình, lạnh đau tê các khớp. Món ăn thích hợp hơn cho người bệnh già và trẻ dạng suy yếu.

- Hành lá to với lượng vừa đủ, nếp 60 g, gừng tươi 5 lát, giấm 5 ml. Hành cắt thành đoạn dài 3 cm (dùng 5 đoạn), cùng nếp vo sạch, gừng lát nấu thành cháo. Sau cùng nêm giấm, ăn ngay lúc nóng. Sau ăn đắp chăn cho vã mồ hôi nhẹ. Thích hợp cho người cảm lạnh, ho. Món ăn này không dùng chung với mật ong.

- Gừng tươi 50 g, gạo rang 50 g, đường đen vừa đủ. Gừng tươi rửa sạch cắt lát mỏng, cùng gạo rang nấu cháo, nêm đường đen trộn đều. Ăn ngay lúc nóng, ngưng ăn sau khi lành bệnh. Thích hợp dùng trong bệnh cảm lạnh, nghẹt mũi chảy nước mũi, ho có đàm loãng, chán ăn. Cũng có thể dùng cho người bệnh nôn ói do lạnh. Không dùng cho người cảm nóng và nôn ói do nóng dạ dày.

- Đạm đậu xị (đậu đen chế) 20 g, Kinh giới 6 g, Ma hoàng 2 g, Sắn dây 30 g, Sơn chi 3 g, Thạch cao sống 60 g, gừng tươi 3 lát, hành 2 cọng, gạo 100 g. Trước tiên các vị thuốc cho vào nồi đất nấu chung (nấu khoảng 5 phút, không lâu), bỏ bã lấy nước, cho vào gạo, cùng nấu cháo loãng. Ăn ấm lúc đói, mỗi ngày 3 lần, ngưng ăn sau khi vã ra được mồ hôi, hạ sốt. Thích hợp dùng trong bệnh cảm mà gây sốt cao, phổi nóng phát suyễn, đau đầu, không mồ hôi, bứt rứt, mất ngủ, họng khô miệng khát, và những người nhiễm bệnh do virus gây sốt cao không vã được mồ hôi. Không dùng cho người bệnh cảm lạnh, sợ lạnh.

- Bạc hà khô 15 g (tươi 30 g), gạo 100 g, đường phèn vừa đủ. Trước tiên nấu lấy nước bỏ bã (nấu 2 phút, không lâu). Gạo vo sạch nấu cháo, chờ khi cháo chín, nêm đường phèn vừa đủ và nước thuốc Bạc hà, nấu sôi gấp. Ăn khi ấm, mỗi ngày 2 lần. Thích hợp cho người bị cảm nóng, đau đầu mắt đỏ, cổ họng sưng đau. Cũng có thể làm thức uống ngừa say nắng vào mùa nóng.

- Thạch cao sống 60 g, Sắn dây 25 g, Đạm đậu xị (đậu đen chế) 2 g, Kinh giới 5 g, Ma hoàng 1,5 g, gừng tươi 3 lát, hành 3 cọng, gạo 100 g. Các vị thuốc trên rửa sơ, rồi nấu lấy nước bỏ bã, cho lắng cặn, gạo vo sạch thêm nước, sau khi nấu sôi, thêm nước thuốc, hành nấu thành cháo loãng. Ăn ngay lúc nóng, sau khi ăn vã mồ hôi hạ sốt thì ngưng. Thích hợp cho bệnh cảm sốt cao không giảm, phổi nóng ho suyễn, đau đầu, bứt rứt, mất ngủ, không mồ hôi, miệng khát, họng khô...

- Nếp 60 g, gừng tươi 5 g, hành 5 cọng, giấm 15 ml. Trước tiên nếp vo sạch cùng gừng tươi cho vào nồi đất nấu cháo, sau khi sôi lại thêm hành, nấu tiếp, chờ khi cháo chín, nêm giấm, nấu sơ thì dùng. Khi chữa bệnh cảm, nhất định ăn ngay lúc nóng, mỗi ngày 2 lần, dùng liền 3 ngày. Sau khi ăn lên giường đắp chăn cho ra mồ hôi nhẹ là tốt nhất. Sau khi vã mồ hôi cần tránh gió lạnh. Thích hợp cho bệnh cảm lạnh, đau đầu, ớn lạnh, phát sốt, đau nhức mình mẩy, nghẹt mũi chảy nước mũi, ho, nhảy mũi... Lưu ý: không dùng cho người bệnh cảm nóng, sốt cao bứt rứt, sợ nóng không sợ lạnh. Trong chế biến, giấm phải nêm vào sau, không nấu lâu.

Theo Khoa học phổ thông

Thứ tư, tháng mười một 16, 2005

Khói bồ kết có thể chống cúm gia cầm

Tại một số tỉnh đã có kinh nghiệm dùng bồ kết chữa bệnh cho vật nuôi. Biện pháp phòng, chống cúm gia cầm bằng phương pháp xông khói bồ kết có cơ sở khoa học.

Người dân địa phương thường đốt bồ kết xông khói để giúp chống suy giảm hô hấp, khó thở. Khói bồ kết còn giúp làm sạch môi trường.

Trong quả bồ kết có hoạt chất saponin, men peroxydaza và một số hoạt chất khác, có tác dụng chống suy giảm hô hấp, khó thở, đây là dấu hiệu bệnh lý trầm trọng nhất của căn bệnh viêm phổi cấp tính do virus (cúm gia cầm).

Bồ kết, bài thuốc chống cúm trong nhà

Theo giáo sư - dược sĩ Đỗ Tất Lợi, bồ kết (tên khoa học là Gleditschiaaustralis - Hems, thuộc họ Vang - Caesalpiniaceae) thường được nhân dân chế nước gội đầu và làm thuốc từ lâu đời. Một số bệnh viện đã dùng bồ kết để thông khoan, chữa bí đại tiện, thông trung tiện sau khi mổ, chữa tắc ruột. Bột bồ kết có tác dụng thông khiếu, tiêu đờm, sát trùng, làm cho hắt hơi, chữa ho, chữa đau răng, chữa chốc đầu trẻ em, lỵ lâu ngày, sưng vú ở phụ nữ...

Hạt bồ kết có tác dụng thông đại tiện, chữa mụn nhọt. Nông dân thường dùng bồ kết chữa bệnh cho vật nuôi. Khi trâu, bò, gà, lợn chết hàng loạt, bà con đã xông khói bồ kết liên tục nhiều ngày đêm, bằng cách đốt các đống trấu lớn, thỉnh thoảng ném vài quả bồ kết vào, bồ kết cháy âm ỉ, khói tỏa ra, bay vào chuồng nuôi, gia cầm gia súc hít thở khói đó sẽ phòng được bệnh dịch.

Trong quả bồ kết có hoạt chất saponin, men peroxydaza và một số hoạt chất khác. Theo các nhà khoa học, từ kinh nghiệm cổ truyền của nhân dân ta và những kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy: Bồ kết và các hoạt chất của nó có tác dụng chống vi khuẩn, vi-rus ngay trên cửa ngõ xâm nhập vào đường hô hấp.

Phương pháp đốt bồ kết xông khói âm ỉ, liên tục, giúp saponin và các hợp chất khác thăng hoa, lẫn trong khói, lan tỏa vào đường hô hấp, bám đọng vào niêm mạc và phát huy tác dụng chống mầm bệnh. Khói bồ kết giúp chống suy giảm hô hấp, thở khó, đây là dấu hiệu bệnh lý trầm trọng nhất của căn bệnh viêm phổi cấp tính do vi-rus. Các nhóm flavonozid có trong bồ kết tham gia bảo vệ thành mao mạch, duy trì sự bền vững của mao mạch, hạn chế xuất huyết...

Theo phó giáo sư Phạm Khắc Kiều và tiến sĩ Bùi Thị Tho, bộ môn Dược lý trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội: Bồ kết và các loại hoạt chất của nó có tác dụng, chống suy giảm hô hấp, khó thở - đây là dấu hiệu bệnh lý trầm trọng nhất của căn bệnh viêm phổi cấp tính do virus H5N1 (cúm gia cầm) gây nên và làm gia cầm mắc bệnh chết nhanh vì suy hô hấp. Saponin có mặt ở niêm mạc đường hô hấp từ khói bồ kết đưa vào, sẽ kích thích các đầu mút thần kinh cảm giác, thông qua đó kích thích trung khu hô hấp giúp cải thiện hô hấp cho con vật.

Mặt khác saponin có tác dụng kích thích các tuyến ở niêm mạc đường hô hấp tăng tiết dịch, pha loãng đờm rãi, kích thích con vật hắt hơi, khẹc mũi, dễ dàng tống đờm rãi ra ngoài, làm thông thoáng đường hô hấp, giúp con vật hô hấp thuận lợi. Đây là một biện pháp rẻ tiền, đơn giản, dễ thực hiện, người nông dân nuôi và nhỏ lẻ hoặc các trang trại lớn đều có thể thực hiện được. Biện pháp này không những tác động vào con gà, mà còn có tác dụng làm cho môi trường trong lành.

GIáo sư - tiến sĩ Vũ Hoan, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội cho biết, cùng với việc tiêm vaccine phòng bệnh cho gia cầm, phun các hóa chất làm sạch môi trường, các địa phương nên kết hợp với xông khói bồ kết bảo vệ đàn gia cầm, làm sạch môi trường.

Theo Nhân dân

Cỏ mực - thuốc thanh nhiệt và cầm máu

Để chữa chứng chảy máu mũi đêm ngày không dứt, Y thư cổ Nam dược thần hiệu khuyên lấy cỏ mực giã nát, đắp vào giữa mỏ ác và trên trán.

Cỏ mực (rau mực) có tên khoa học là Eclipta alba Hassk, thuộc họ cúc Asteraceae. Gọi là cỏ mực vì khi vò nát có nước chảy ra như mực đen. Người ta còn gọi nó là cây nhọ nồi, dễ gây nhầm lẫn với vị thuốc nhọ nồi lấy từ nồi chảo. Tên chữ Hán là hạn liên thảo (cây có đài quả như sen).

Cỏ mực tính lạnh, vị ngọt chua, không độc, có tác dụng lương huyết (mát huyết), cầm máu, thanh can nhiệt, dưỡng thận âm, làm đen râu tóc. Chủ trị: xuất huyết nội tạng (chảy máu dạ dày, tiêu tiện ra máu, thổ huyết do lao, rong kinh), kiết lỵ, viêm gan mạn, chấn thương sưng tấy lở loét, mẫn ngứa, (uống trong, rửa ngoài).

Sách Thần nông bản thảo gọi cỏ mực “là thuốc cầm máu nổi tiếng”. Sách Đường bản thảo viết, người bị chảy máu dữ dội dùng cỏ mực đắp sẽ cầm, bôi nước lên đầu thì tóc sẽ mọc lại nhanh chóng. Điền nam bản thảo cho rằng, rau mực làm chắc răng, đen tóc chữa khỏi 9 loại trĩ. Bản kinh (ra đời cách đây 2.000 năm) viết: “Máu chảy không cầm, đắp rau mực cầm ngay”.

Kỵ dùng cỏ mực khi có âm hư không có nhiệt, tỳ vị hư hàn tiêu chảy. Ngày nay, vị thuốc này được dùng nhiều trong điều trị sốt xuất huyết muỗi truyền, ung thư và nhiều bệnh khác.

Viện Dược liệu từng nghiên cứu tác dụng cầm máu và độc tính của cỏ mực và nhận thấy nó có khả năng chống lại tác dụng của dicumarin (thuốc chống đông), cầm máu ở tử cung, tăng trương lực tử cung. Cỏ mực không gây giãn mạch, không hạ huyết áp, nhưng có thể gây sẩy thai.

Một số bài thuốc

Thổ huyết và chảy máu cam: Dùng cỏ mực cả cành và lá tươi giã lấy nước để uống.

Tiêu ra máu: Cỏ mực nướng trên miếng ngói sạch cho khô, tán bột. Mỗi lần dùng 2 chỉ (8g) với nước cơm (Gia tàng kinh nghiệm phương).

Tiểu ra máu: Cỏ mực, mã đề 2 vị bằng nhau, giã lấy nước ngày uống 3 chén lúc đói (Y học chân truyền). Hoặc nấu cháo cỏ mực (100 g) với 3 lát gừng.

Trĩ ra máu: Một nắm cỏ mực để nguyên rễ, giã nhuyễn, cho vào 1 chén rượu nóng, thành dịch đặc vừa uống trong, vừa đắp bã ngoài (Bảo thọ đường phương).

Chảy máu dạ dày-hành tá tràng: Cỏ mực 50 g, bạch cập 25 g, đại táo 4 quả, cam thảo 15g sắc uống, ngày 1 thang chia làm 2 lần.

Vết đứt chém nhỏ chảy máu: Một nắm cỏ mực sạch nhai hoặc giã nhuyễn đắp lên vết thương.

Chữa râu tóc bạc sớm: Cỏ mực với lượng tùy dùng, rửa sạch, nấu cô đặc thành cao rồi cho nước gừng, mật ong với lượng vừa phải, cô lại lần nữa. Cho vào lọ, khi dùng lấy 1-2 thìa canh hòa nước đun sôi còn ấm hoặc cho ít rượu gạo để uống. Ngày 2 lần, cao này có tác dụng bổ thận, ích tinh huyết.

Hoặc: Cỏ mực 1-2 kg, cho vào nước ép lấy dịch đặc trộn với bột nữ trinh tử đã được chế sẵn như sau: nữ trinh tử 300-1.000 g ngâm rượu 1 ngày, bóc vỏ, rang khô tán bột. Viên hoàn bằng mật ong. Mỗi lần uống 10 g. Ngày uống 3 lần với rượu gạo hâm nóng. Hoàn này bổ can thận, xanh đen râu tóc, khỏi đau lưng gối (Nữ trinh tử không phải trinh nữ tử).

Chữa di mộng tinh (do tâm thận nóng): Cỏ mực sấy khô, tán bột. Uống ngày 8 g với nước cơm, hoặc sắc cỏ mực để uống ngày 30 g.

Rong kinh: Nếu nhẹ, lấy cỏ mực tươi giã vắt lấy nước cốt uống hoặc cỏ mực khô sắc nước uống. Nếu huyết ra nhiều, cần phối hợp thêm trắc bá diệp hoặc cây huyết dụ…

Trẻ tưa lưỡi: Cỏ mực tươi 4 g, lá hẹ tươi 2 g giã nhuyễn, lấy nước cốt hòa mật ong chấm lên lưỡi cách 2 giờ 1 lần.

Cỏ mực chữa sốt xuất huyết

Viện Đông y cùng bệnh viện quận Đống Đa từng dùng cỏ mực chống dịch sốt xuất huyết muỗi truyền vào năm 1969, với 230 bệnh nhân nội trú, kết quả khỏi bệnh 99,6%. Viện Quân y 13, quân khi 5 cũng dùng mấy bài thuốc Nam dạng xiro có thành phần cỏ mực để chữa bệnh này, đem lại hiệu quả cao.

Ngoài việc thanh can nhiệt, dưỡng thận âm, tác dụng cầm máu của cỏ mực đã được nghiên cúu tổng kết qua lâm sàng bệnh sôta xuất huyết và trong phòng thí nghiệm, mở ra cách giải thích cơ chế tác dụng cầm máu. Do vậy, cần bảo lưu vai trò của cỏ mực trong phương pháp chữa sốt xuất huyết vì chảy máu là một trong 2 yếu tố gây tử vong lớn nhất trong bệnh này.

Ngoài ra, theo tài liệu của Trung Quốc, cỏ mực đã được dùng để chữa ung thư các loại (phối hợp với những vị khác) như ung thư dạ dày, tử cung, xương, bạch huyết, họng. Trong đó, để chữa ung thư họng, chỉ dùng mỗi vị cỏ mực 50 g tươi vắt nước uống hàng ngày hoặc sắc nước uống.

Theo Sức khỏe & đời sống, VNE

Bưởi chữa bệnh và làm đẹp

Bưởi là loại trái cây nhiệt đới rất được ưa chuộng vì đa công dụng. Ngày nay, các nhà khoa học còn khám phá thêm những đặc tính trị liệu mới của bưởi.

Làm giảm cholesterol

Theo các nghiên cứu trên những người có lượng cholesterol trong máu cao, việc ăn bưởi thường xuyên trong 4 tháng giúp giảm cholesterol trung bình 8%, trong một vài trường hợp cá biệt giảm đến 20%.

Làm lành vết loét dạ dày

Các nhà khoa học Ba Lan nhận thấy hợp chất chiết xuất từ hạt bưởi chứa nhiều chất chống ôxy hóa mạnh có thể giúp lành các vết loét dạ dày.

Thử nghiệm cho chuột bị loét dạ dày: dùng khoảng 10 mg chất chiết xuất từ hạt bưởi thì thấy giảm được 50% lượng acid tiết ra gây loét và diện tích các vết loét cũng thu hẹp dần sau 6 - l0 ngày chữa trị. Bưởi còn làm tăng tuần hoàn máu đến các vị trí loét.

Phòng chống ung thư

Trong số nhiều chất tìm thấy trong bưởi có các chất chống ôxy hóa mạnh như lycopène, limonoid và các naringine. Những chất này có thể góp phần xoa dịu các triệu chứng do cảm lạnh và các tai biến tim mạch cũng như ung thư.

Các nghiên cứu khoa học cho thấy các limonoid làm gia tăng hàm lượng của một số enzyme có khả năng giảm độc tính và hỗ trợ việc loại bỏ các tác nhân gây ung thư.

Làm đẹp làn da

Cocktail chế biến từ bưởi, chanh, cam, húng tây, hương thảo, dầu hạt bí ngô... giúp gia tăng vẻ tươi tắn cho làn da, chống lại sự tấn công của các yếu tố ô nhiễm môi trường và giúp biểu bì cân bằng các yếu tố dinh dưỡng. Ngoài ra, các loại kem bưởi cũng có tác dụng dưỡng da.

Những tương tác cần lưu ý

Tuy bưởi là một loại trái cây tuyệt vời cho sức khỏe, nhưng nếu sử dụng nước bưởi ép để uống thuốc trị bệnh thì các tương tác có thể ảnh hưởng đến việc chuyển hóa của khoảng 60% loại thuốc. Danh sách thuốc bị tương tác với bưởi rất nhiều vì vậy cần thận trọng tránh ăn bưởi khi đang dùng thuốc.

Theo Người lao động

Thứ ba, tháng mười một 15, 2005

Yến sào - dược liệu quý

Yến sào có tác dụng bổ dưỡng cao, làm cường tráng, dai sức, kích thích tiêu hóa, giúp an thần, gây ngủ, cầm máu, chữa được bệnh ho, thổ huyết, kiết lỵ. Đây là vị thuốc bổ rất tốt cho người ốm yếu, cao tuổi, sản phụ băng huyết, trẻ em suy dinh dưỡng.

Ngày qua ngày, chim yến hàng (loài chim sống ở biển miền Trung và các đảo) miệt mài nhả dãi (nước bọt) thành những vòng tròn xoáy trôn ốc để xây nên những chiếc tổ xinh xắn mà nếu bị lấy đi, chim lại tiếp tục không nản làm lại tổ khác để duy trì nòi giống.

Tổ chim yến còn có tên dân dã là tai yến (vì tổ nom giống như tai người), còn trong y học cổ truyền và giao dịch kinh tế, nó được gọi là yến sào (yến: chim én, sào: tổ). Tổ yến được khai thác làm hai đợt. Đợt thứ nhất vào tháng 3 trước khi chim đẻ trứng. Đợt thứ hai vào tháng 7-8 sau khi chim non rời tổ, tự bay và kiếm mồi. Chính việc khai thác hợp lý này đã tạo điều kiện thuận lợi cho đàn chim phát triển (dưỡng chim).

Tổ yến hình nôi tròn hoặc bầu dục, cong bán nguyệt, màu trắng xám, có khi màu hồng hoặc đỏ, to bằng nửa quả trứng vịt, dài khoảng 7 cm, rộng 5 cm, nặng độ 10 g. Đôi khi có những tổ to, dày, nặng khoảng 18-20 g mà người ta cho rằng đó là tổ do chim xây lần đầu, những lần sau làm lại tổ nhỏ dần và mỏng. Lại có nhận định là tổ to do chim trẻ làm và tổ nhỏ do chim già làm. Tổ yến khai thác về được chải sạch chất bẩn, nhặt hết lông tơ, rồi phân thành nhiều loại.

- Yến huyết có màu đỏ tươi, mép có viền trắng, được xếp vào loại thượng hạng. Loại yến này rất hiếm gặp, thường mỗi vụ thu hoạch chỉ được vài trăm tổ. Theo các nhà khoa học, tổ yến có màu đỏ là do vách đá nơi chim yến làm tổ có nhiều oxyde sắt, còn theo truyền thuyết dân gian thì do chim cố gắng hết sức để làm tổ nên bị ra máu.

- Yến quang hay yến bạch là tổ làm lại lần thứ hai, to dày, màu trắng trong, nặng 10-12 g, là loại một.

- Yến thiên màu trắng đục, xanh hoặc vàng, nặng 9-10 g, loại hai.

- Yến địa màu xám, tím hoặc đen nhạt, nặng 6-7 g, loại ba (tổ của chim già).

Ngoài ra, còn có yến bã trầu màu hồng, yến bài là tổ chưa làm xong hoặc bị vỡ, yến mao là tổ mới làm lần đầu, yến xiêm là tổ rất bẩn, dính đầy lông (ít được dùng).

Cách chế biến tổ yến: Ngâm tổ trong nước lã 3-4 giờ hoặc nước nóng 1/2-1 giờ, khi thấy các sợi dãi đã tã ra thì vớt lên (có thể xoa ít dầu lạc), nhặt hết lông chim, rác rưởi, rêu núi và các chất bẩn khác còn bám vào. Thay bằng nước lã, khỏa đều. Cứ thế rửa sạch nhiều lần, để ráo nước. Lúc này, sợi yến có màu trắng lục nhạt, nhỏ và dai giống như sợi miến.

Tổ yến có hàm lượng protein khá cao (43-55%, nhiều hơn thịt, cá) và các acid amin rất cần thiết cho cơ thể con người, không thay thế được và như cystein, phenylalamin, tyrosin... Nó cũng chứa đường glucose với hàm lượng cao; lượng mỡ thấp, và các vitamin B, C, E, PP; các muối natri, sắt, phospho; các nguyên tố vi lượng. Về mặt thực phẩm, yến sào được liệt vào hàng “cao lương mỹ vị”, là một trong 8 món ăn nổi tiếng (bát trân) cùng với bào ngư, hải sâm, vây cá mập, đế chân voi, bàn tay gấu...

Dùng riêng, yến sào sấy khô, tán bột mịn, uống mỗi ngày 6-12 g. Dùng liền 7-10 ngày. Dùng phối hợp, yến sào (được yến huyết càng tốt), tắc kè, tử hà sa (rau thai nhi), ngưu hoàng lượng bằng nhau, sấy khô, tán nhỏ, rây bột mịn, luyện với mật làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 20 viên chia làm 2 lần.

Có thể dùng yến sào dưới dạng món ăn - vị thuốc theo các phương cách sau:

Yến thả: Sợi yến hấp cách thủy cho chín (không nấu trực tiếp với nước vì dễ bị nát và mất chất bổ) được xếp vào bát con, rải thịt gà xé lên trên, rồi chan nước luộc gà thật nóng. Thêm gia vị cho đủ ngọt, ăn làm một lần.

Yến tần: Sợi yến nhồi vào bụng chim bồ câu đã làm thịt sạch cùng với ít gạo nếp, đậu xanh, mộc nhĩ hoặc nấm hương, gia vị. Hầm cách thủy cho chín nhừ. Ăn trong ngày.

Chè yến: Sợi yến đã hấp cách thủy cho vào bát con. Đường kính nấu với nước đến sôi, bắc ra, cho lòng trắng trứng và vỏ trứng tán vụn để quyện lấy tạp chất. Lọc thật trong, rồi dội vào bát yến. Ăn khi chè còn ấm. Có người còn hấp sợi yến với đường phèn và ít sâm hoặc nước dừa.

Trong dân gian, người ta dùng cả máu yến (yến huyết), phân yến (yến thỉ), thịt chim yến (yến nhục) và tổ yến trong đó có xác của chim yến non mới nở (sào nội yến tử). Phân chim yến 30 g (phơi khô, sao vàng, tán bột) trộn với tỏi (3 củ) giã nát, thêm hồ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 3 viên với nước ấm, chữa ngộ độc.

Theo Sức khỏe & đời sống